Một số vấn đề về nhân vật Trư Bát Giới trong “Tây du ký”
(Hay: Trư Bát Giới- Khoảnh khắc được làm một con người)
Ngô Hương Giang
(Tiểu luận/ nhận định)
“Lịch sử luôn luôn cần phải viết lại…” ( Ph.Ănghen)…
*****
“ Tíùnh ta hay laøm bieáng ham chôi chaúng hoïc haønh
Gaëp tieân trao chính ñaïo truyeàn pheùp daïy ñôn kinh
Chöùc Ngaân Haø Nguyên soaùi phong Toång ñoác thuûy binh
Nhoùm baøn ñaïo nöôøm nöôïp uoáng ngöï töûu huyønh huyønh
Ñi laïc vaøo cung nguyeät sinh eïo choïc naøng Quyønh
Ngoïc Hoaøng giaän baét toäi ñaøy ra khoûi Thieân ñình
Ñaàu thai khoâng nhaèm neûo lôïn röøng coù chöõa sinh
Laáy theo hình laøm ho Trö cang Lieäp thò danh.”
( TDK, H.19)
Vị thần tiên này là ai vậy?. Sẽ không phải là bất ngờ nữa ,khi độc giả đều đoán nhận ra sự quen thuộc kỳ lạ, ấy là chàng Trư. Trước khi bắt tay vào viết, chúng tôi như những đứa trẻ xăm soi, nhìn ngắm những bức hình đang được tô. Trên bức hình ấy là ba hình ảnh lần lượt được hiện ra: Đầu tiên là hình ảnh “ Trư Bát Giới ”, thứ đến là cái bóng trỗng rỗng của dấu gạch ngang thầm lặng “ – ” và cuối cùng là “khoảnh khắc được làm một con người”. Đó là ba hình ảnh, như là ba vế của một phương trình lần lượt được tháo gỡ, làm minh giải từng vế, rồi soi xét nó trong cái nhìn phương Đông về con người. Trong cuộc đối thoại giữa văn chương và đời sống ấy, người viết không làm lại những phần việc mà các nhà nghiên cứu đi trước đã làm. Đó là sự bàn luận về nguyên tác, đó là những cách gọi tên nhân vật của mình, rồi biện luận cho cách gọi tên ấy như: Đường Tăng anh là ai?, Ngộ Năng anh là ai? (Lê Anh Dũng) hoặc là sự kể lể các kỳ tích mà những nhân vật ấy làm nên trong tác phẩm… Chúng tôi mạnh dạn tách mình trở thành cái bóng, để đối thoại với nhân vật mà mình yêu thích vốn ấp ủ bấy lâu, để rồi cuộc đối thoại đó đã trở thành một cuộc bàn luận văn hóa Trung-Việt. Cuối buổi nói chuyện ấy, chúng tôi chia tay chàng Trư mà với gọi theo trong niềm cảm mến : “Trư Bát Giới , anh là một con người”. Với mục đích ấy, người viết mong rằng đề tài của mình sẽ trở thành một câu chuyện vui để mọi người cùng bàn luận, trên cơ sở đó mà mở đề tài theo ba hướng:
1.Sự lộ diện của những hình hài vô thức.
2.Cuộc đấu tranh lặng lẽ rời bỏ cái hình hài vô thức.
3.Ánh hào quang yếu ớt tỏa ra từ phía của một con người .
Trong quá bàn luận này, người viết không cố phạm vào lỗi logic “tiền hậu bất nhất” khi xưng danh nhân vật. Thiết nghĩ rằng sẽ thật là nhàm chán, bức bối nếu như nhân vật bước ra với vẻ cứng nhắc. Vì vậy để bạn đọc hứng thú hơn, chúng tôi sắp đặt tên nhân vật vận động theo tính cách trong từng đoạn mà tác giả của nó đã dựng lên .
*****
Sự lộ diện của những hình hài vô thức
Mượn thuật ngữ phương tây về cái vô thức , áp đặt cái nhìn về Phương đông thật là không đúng. Nó không đúng về cách thức , lại càng không đúng về bản chất văn hóa. Nhưng, xét trong quá trình giao lưu cộng hưởng về văn hóa nhân loại thì dù là phương Đông hay phương Tây; dù là người Á châu hay người Âu châu, cũng đều nhìn nhận vấn đề trên trong sự cân bằng về chất .Vô thức ở phương Tây hay tính dục ở phương Đông đều là những sắc vọng, biểu kiến ăn sâu, bám rễ trong mỗi phần con của loài người. Nhìn nhận vấn đề ấy vào một thế giới ảo kỳ của Tây du ký thật khó biết bao, điều mà trước nay chỉ được biết đến như phần tồn đọng của cái con trong mỗi người, mà ít thấy rằng nó là một phần của đời sống. Đôi khi nó giúp ích ta rất nhiều. Chúng tôi không có ý nhìn nhận sai về quan điểm của GS. Lương Duy Thứ, khi giáo sư phủ định bản năng tính dục trên: “ Hiểu tây du ký là con người với tất cả thói xấu và khả năng chiến thắng thói xấu của nó thì chẳng khác gì khẳng định tác phẩm này không có quê hương không cần có năm sinh tháng đẻ , nó treo lơ lửng trên mọi không gian và thời gian. Vả chăng con người thỉnh kinh mà tác giả mô tả đâu phải chỉ có cản trở là dục vọng và sự lười biếng….. Đó là một lối suy nghĩ gượng ép , rút gọn tác phẩm phong phú phức tạp thành một chuyện ngụ ngôn”(Sđd, tr.58) . Và cũng không nhất quán với tác giả Lê Anh Dũng khi nhìn nhận về Trư Bát Giới với góc nhìn thiên kiến chỉ riêng cái hạn chế, mà bản năng dục vọng từ phía chàng đem lại. Dù sao đi nữa, mây núi ngút ngàn, cùng trăng sao lãng mạn vẫn là không gian gợi mở vẻ thực hư của nhân vật, để rồi cảm nhận nó theo cách riêng của mình. Nói rằng chỉ quan tâm đến tính dục mà quên đi tư tưởng của tác phẩm, là một điều thiếu xót .Nhưng độc giả, đặc biệt độc giả nhí vẫn nở tươi nụ cười và sảng khoái trong cảm thức về dáng vẻ, về tính tham lam của Trư mỗi khi đọc hoặc xem tây du ký, mà đâu hề soi xét vấn đề trong phạm vi tư tưởng (!).Tác phẩm tồn tại đâu chỉ có ở nội dung tư tưởng, điều mà Giáo sư Lương Duy Thứ gọi tên là “quê hương”; chàng Trư tồn tại đâu phải chỉ có tính biểu trưng .Tác phẩm tồn tại, ấy là cái lý cuộc sống nằm trong nó ( Cái đẹp ), nhân vật Trư Bát Giới tồn tại là bởi tính chân thực của nhân vật. Chính vì chân thực, nên ai cũng muốn xem, muốn tò mò khám phá những ẩn náu tiềm tàng nơi nhân vật này.Có lẽ là vì một phần của con người đã được khơi ra, gợi đến từ tấm gương ấy. vậy nhìn nhận sao cho đúng bản năng tính dục, để khỏi vấp phải sự ràng buộc của thiên kiến xã hội và chấp nhận nó, là một điều khó. Nhìn nhận vấn đề ở một nhân vật trong tác phẩm thuộc loại tiểu thuyết thần thoại ( dựa theo bài giảng của cô giáo Đỗ Thu Thủy), mà xung động của tác phẩm được gợi lên chủ yếu là những khúc đoạn ảo hóa, lại là một điều khó nữa. Chúng tôi xin gợi mở từng vấn đề và biện giải nó.
Lẽ thường ta hay hiểu Bát giới ( 八戒 ) là tám cái tham: Tham ăn, tham ngủ, tham nghỉ, tham mặc, tham tiền, tham sắc, tham công trạng, tham nịnh nọt, nằm trong khuôn phạm “Tính” của người Phương Đông. Những giới ấy tác động đến con người thế nào, nó đa thù hay thuần nhất, nó tích cực hay tiêu cực và nên tiếp nhận nó hay loại bỏ nó? Xét nghĩ rằng câu trả lời có ở mỗi người đọc, chúng tôi xin đưa ra cách quan niệm chưa thoát khỏi ý hướng tính chủ quan của mình để cùng san sẻ. Xét trong toàn bộ hoạt động của Trư Bát Giới thì tính tham đóng vai trò chủ đạo, nhưng cái hay là ở chỗ tính tham ấy của chàng dường như giậm chân tại chỗ. “Tham ăn”, có lẽ là nét tính cách tiêu biểu nhất của nhân vật này trong Tây Du Ký( 西遊記 ). Bát giới ham ăn, đến mức bất tri kỳ vị ( 不 知 其 味 – không còn biết mùi vị món ăn ra sao nữa) .Chuyện xảy ra ở quán Ngũ Trang, núi Vạn Thọ, là một trong những trường hợp tiêu biểu. Ở Hồi thứ 24, sau khi Tề thiên chia phần cho ba anh em mỗi người một quả nhân sâm, thì Bát giới “vừa cầm lấy quả, đã phồng mồm trợn mắt, đút tỏm vào miệng, nhai ngốn ngấu nuốt ực xuống bụng…” Rồi chàng hỏi: “Các anh ăn gì đấy? (…) Mùi vị ra sao?” Chàng thú nhận: “…em ăn vội quá (…) chẳng biết mùi vị ra sao cả, chẳng biết nó có hột hay không nữa…” [TDK III 1988: 90]. Bát Giới còn có tính… ẩu, ăn nói bạt mạng. Ở Hồi thứ 19, khi đã nhận Đường Tăng làm thầy, trước phút lên đường thỉnh kinh, trước cái giờ bắt đầu thực hiện sứ mạng thiêng liêng cao cả, Bát Giới vẫn cố… gỡ gạc: “Thưa sư phụ, con đã nhận giới hạnh của bồ tát (…) ở nhà bố vợ ăn chay giữ giới, không bao giờ ăn mặn, nay gặp sư phụ con xin phá giới một bữa.” [TDK II 1982: 186]. Hay như Hồi thứ 23, khi mấy thầy trò tá túc qua đêm tại nhà bà góa họ Giả có ba cô con gái xinh đẹp chưa chồng, muốn kén mấy thầy trò làm rể, Bát Giới mau mắn tìm cách loại bỏ ngay “đối thủ số một” là chính sư phụ mình. Trước mặt bà mẹ góa, Bát giới nói: “Thưa mẹ, mẹ hãy thuyết phục các em đừng có quá kén chọn như thế. Như thầy Đường tăng của con, tuấn tú đẹp trai thật, mà không dùng được việc gì đâu.”
Bà mẹ nghe vậy, cẩn thận khuyên Bát giới nếu muốn cưới vợ thì phải thương lượng với sư phụ, chàng ta gạt phắt: “Không cần phải thương lượng. Ông ấy có phải bố đẻ con đâu. Muốn hay không là do con tất.”
Vì chỉ có một ứng cử viên mà lại đến những ba cô con gái, bà mẹ góa than thở: “Gả đứa lớn thì sợ đứa thứ hai tị. Gả đứa thứ hai thì sợ đứa út tị. Muốn gả em út cho con lại sợ đứa lớn tị…” Bát Giới sốt sắng đề nghị: “Nếu sợ các em tranh nhau, thì mẹ gả tất ba em cho con là xong, đỡ phải cãi nhau ầm ĩ, làm rối gia đạo. (…) Giá mà thêm mấy cô nữa, con rể mẹ cũng sẵn sàng thu nhận. Thuở nhỏ, con đã học được phép nhẫn nại, có bao nhiêu vợ con cũng có cách ăn ở được vừa lòng.” Và đến khi bà mẹ bảo rằng các con bà không chịu lấy Bát Giới làm chồng, anh chàng ứng xử thật mau mắn: “Mẹ ạ, các em không chịu lấy con, hay là mẹ lấy con vậy.” [TDK III 1988: 62-68]… Và còn thật nhiều đoạn thú vị nữa, mà chắc hẳn bạn đọc đã được tiếp cận.
Việc lược khảo trên chỉ có tính tương đối, mục đích đem lại cảm hứng lý giải điều mà đến tận ngày hôm nay vẫn còn không ít những ý kiến này nọ hiểu sai, bóp méo vấn đề.Tính tham của Bát giới lẽ nhiên không ai coi là tốt, là đẹp. Nhưng hiểu nó là xấu, là tiêu cực như quan điểm thiên kiến mang tính tôn giáo của tác giả Lê Anh Dũng thì cũng chưa hoàn toàn đúng, tác giả nhận xét: “Phải chăng cái chất trư trong con người có xu hướng kéo tụt con người xuống tận cùng mọi nấc thang giá trị đạo đức” (Sđd). Xét toàn bộ con đường thỉnh kinh của thầy trò Đường Tăng sẽ là gì đây, nếu con đường ấy bằng phẳng lặng lẽ. Bởi cái tạo nên chín chín tám mốt nạn của thầy trò họ là do phần lớn chính những dục tính tham lam của Trư mà nên, chuyện yêu quái nhiễu nhương, chuyện gặp nạn ở nơi này, nơi nọ…Là do sự ngờ nghệch, do tham mà mắc lừa. Do đó, khách quan mà nhận định thì tính tham của Trư cũng là một nhân tố làm nên cái vòng tròn tương đối của thử thách nạn kiếp chốn cửa Thiền. Chúng tôi chỉ bàn về thử thách, chứ không có ý bàn luận về việc giải quyết các thử thách ấy. Việc giải quyết thử thách ấy lại phải nhờ vào bản lĩnh của Tôn sư huynh (Xin gọi với tên thân thiện này ) cùng các môn đệ khác, nhưng ngẫm rằng nếu không có thử thách, thì sao có giải quyết thử thách. Lại nói về Tôn sư huynh, đây là nhận vật được Ngô tiên sinh dựng lên như là sự hoàn chỉnh cao nhất về lý trí. Không rõ Ngô tiên sinh cố tình sắp đặt hay do ngẫu nhiên tạo dựng, điều thấy rõ nhất là Tôn sư huynh bay mây về gió là thế nhưng lại luôn đặt trong mối tương quan so sánh với Trư đệ. Nếu theo quan niệm của tác giả Lê Anh Dũng khi giải mã truyện Tây du cho rằng Tôn Ngộ Không là biểu trưng cho lý trí, Trư Ngộ năng là sản phẩm thoát thai từ dục tính thì sự so sánh này thực chất là sự bàn luận về tương quan giữa ý thức và vô thức. Xét trong toàn bộ diễn biến của câu chuyện thỉnh kinh thì mỗi lần Tôn Ngộ Không tung hoành giữa chốn mưu ma, chước quỷ ; thì đồng hành với chàng lại là Trư Bát Giới. Đó là một điều thuận thứ nhất.Tôn sư huynh thất bại thì Bát Giới đệ cũng đâu có thành công, khi Tôn huynh bị nạn thì Bát giới cũng bị bắt (nhiều lần chết hụt) hoặc may thì thoát được, đó là điều thuận thứ 2. Thắng lợi trước yêu quái là bản lĩnh, là tài năng hàng yêu của Ngộ không, nhưng cũng là thắng lợi chung của thầy trò Đường Tăng và tất yếu cũng không bỏ qua được Ngộ Năng, đó là điều thuận thứ 3. Như vậy, trong cuộc đối sánh này ý thức và vô thức không phải mâu thuẫn nghịch lệ với nhau, mà bổ sung và tương trợ nhau trong mối quan hệ tỉ lệ thuận về chất. Đây phần nào phù hợp với quan niệm âm dương của người Phương Đông, tương sinh tương khắc.Vì lẽ đó, nếu nhìn nhận Trư Bát Giới chỉ thuần nhất là xấu xa, là tiêu cực thì có phần chưa thỏa đáng. Trên bình diện đó, nếu chỉ nhìn cái vô thức là tha hóa cũng chính là ta đang gạt dần cái phần giúp cân bằng đời sống con người. Không phải cái ham muốn nào cũng tiêu cực, nó chỉ thực sự tiêu cực khi nó vượt quá giới hạn cho phép làm lung lay những chuẩn mực đời thường. Cái tham ăn, tham ngủ, tham mặc và cả tham sắc của Trư Bát Giới nếu như chỉ dừng lại ở luận điểm làm điều hòa khao khát bản năng thì nó phần nào mang tính tích cực . Như lúc đầu chúng tôi có bàn đến sự giậm chân tại chỗ trong tính tham của chàng Trư, là ý muốn đối lập với Tính phát triển của nó. Cũng là “tham” ấy, nhưng nếu không kiểm soát để nó phát triển theo kiểu “ có một thì thèm hai, có hai thì thèm ba, có ba thèm tất cả” thì nó không còn cái giản dị vốn có nữa, mà nhanh chóng trở thành cái tha hóa. Thường thì người ta hay nhìn nhận cái vô thức theo hơi hướng “tha hóa” như chúng tôi vừa minh định, mà ít khi nhìn nhận về tính giản dị nguyên gốc của nó. Cách hiểu thông tục thường coi mọi dục tính đều xấu xa, ấy là do chúng ta tiếp nhận đạo Phật nhưng lại chưa nắm rõ chân lý mà Đức Thích Ca truyền giảng, cho nên đã làm méo mó vấn đề. Đức Thích Ca có bàn đến tính chất diệt dục ở con người, nhưng không phải là diệt tất cả. Người chỉ rõ diệt là diệt những mê vọng, khi mà những mê vọng ấy đã trở thành ngọn lửa ác nung đốt con người trong nỗi niềm quẩn quanh. Có lẽ vì vậy mà biểu tượng âm dương với sự hòa nhập của hai mặt đối lập, sớm đã trở thành triết lý được xem xét bao quát rộng lớn mọi vấn đề: Có âm thì sẽ sinh dương, có trời sẽ tạo đất, có nhu thì ắt có cương…. Và có vô thức sẽ làm nảy sinh ý thức. Hai thái cực mâu thuẫn ấy không tách rời nhau, mà lồng ghép, đan xen, bổ trợ và hòa lẫn vào nhau. Để tiện hình dung, chúng tôi thể hiện ý hướng của mình theo sơ đồ truyền thống :
( Do phần mặc định của trang không cho phép tạo hình, cho nên không đăng tải được hình ảnh mong bạn đọc thông cảm – HG)
Trên đây chúng tôi đã làm phần việc minh giải vấn đề “Tính” trong nhân vật Trư Bát Giới, từ đó đề xuất ý kiến “Tính” của chàng Trư không hẳn là đã tiêu cực như một số nhìn nhận sai lệch trước đây. Từ đó, chúng tôi xin lê la, dài dòng mà mạn đàm thêm vai trò của vô thức trong đời sống con người .
“ Cuộc đời là một giấc mộng ” *, nói như vậy nghĩa là chúng ta đang làm phép thống kê tâm lý học về mối quan hệ giữ ý thức và vô thức. Thực tế thì chúng ta, mỗi con người theo nghĩa bản nguyên thường sống thiên về vô thức là phần nhiều. Ý thức với sức mạnh của nó, khiến người ta không còn kịp nhận ra ước mơ, khao khát ( Vô thức) của mình. Song, nếu tỉ mỉ bóc lớp tâm hồn con người thì khoảng nhận thức của ta chỉ chiếm 40% đời sống, còn vô thức lại tới 60% ( Thống kê tâm lý học, tạp chí khoa học và đời sống, 2006). Không nói đâu xa, mỗi chúng ta thời gian ngủ luôn chiếm chủ yếu ( điều nhận xét này chỉ mang tính tương đối).
Nói thời gian ngủ chiếm chủ yếu, đồng nghĩa với việc ta nhìn nhận giấc mơ luôn chiếm địa vị cao nhất trong đời sống tâm hồn con người, từ “những giấc mơ xa xưa trong các câu truyện cổ tích, thần thoại đến giấc mơ tập thể hôm nay có sự quy tụ đồng tâm ” (Đỗ Lai Thúy, phân tâm học và tính cách dân tộc, NXB tri thức, phần tính cách Nga ). Khẳng định giấc mơ (gồm giấc mơ thức và giấc mơ ngủ) chiếm chủ yếu thời gian hoạt động của con người, cũng đồng nghĩa là ta đang khẳng định sự hiện diện của vô thức. Điều này có phần thỏa đáng, bởi nếu chỉ sống nặng về lý trí, e rằng con người khó đứng vững lâu. Vô thức tồn tại là để làm dịu ý thức trong sự rực cháy của nó, sự rực cháy này thực nguy hiểm; nếu không kìm hãm nó sẽ thiêu đốt tất cả. Bằng chứng là Tôn sư huynh vì lý trí quá cao ( xin viện dẫn quan điểm của tác giả Lê Anh Dũng ) mà khiến cho thiên đình cũng phải rung chuyển, Ngọc Hoàng bao phen phải “vã mồ hôi” vì run sợ. Nhưng sự xuất hiện của Bát giới như gáo nước lạnh rội vào “đám lửa đang bùng cháy ấy”, khiến nó trở nên dịu dàng và êm ái. Như vậy, vô thức ở một mặt nào đó cũng có tính tích cực. Cuộc đời của Trư Bát Giới là “một giấc mơ”. Đầu tiên, người ta thấy có một Thiên Bồng nguyên soái trên thượng giới vì mê Hằng Nga, mà chịu kiếp đầy ải chốn hạ giới trong lớp hình hài của một con heo. Thứ đến, khao khát của một cuộc sống gia đình, khiến chàng rơi vào vòng thử thách của các vị bồ tát ( như đã trích dẫn ở trên) và cuối cùng là bữa cơm nơi đất phật khi chớm cửa chân kinh. Tất cả đều bình dị, đơn sơ mà ai cũng mong muốn.
Tóm lại, bao nhiêu giấy mực, bao nhiêu ý kiến tạo ra rồi cũng là để đi đến một kết luận cuối cùng cho luận điểm. Sự lộ diện của cái vô thức trong nhân vật Bát Giới như bước đệm để nhân vật tồn tại, song nó cũng là một bài học về sự tỉnh lược dần những phần tiêu cực của dục tính; giữ lại những phần mộng mơ, bình dị mà chính những dục tính ấy mạng lại. Tất nhiên như lúc đầu đã nói, sự minh giải của chúng tôi có tính tương đối, bởi ai cũng mang trong mình “gót chân Asin”.
*****
Cuộc đấu tranh lặng lẽ rời bỏ cái hình hài vô thức
Nói đến “đấu tranh”, lẽ thường hay nói đến sự tiêu diệt bài xích của vật này với vật khác, của cái này với cái kia. Đấu tranh rời bỏ cái hình hài vô thức, không phải là sự xóa bỏ, hủy diệt tất cả; mà nó là sự thanh lọc (Cathasit ), lựa chọn (choice) những gì tích cực và giữ nó bên mình như là một phẩm chất. Như trên đã bàn : Không phải cái “Tính” nào cũng là xấu , là tiêu cực và cho dù chúng tôi có áp dụng phương pháp này hay phương pháp khác để giải quyết vấn đề cũng chỉ dừng ở tính tương đối và thường chọn lọc có điều kiện. Không phải phương pháp nào cũng áp dụng được một cách toàn thể , bao quát. Có những vấn đề ở khía cạnh này cho phép áp dụng được, nhưng ở khía cạnh kia thì lại phản tác dụng, thậm chí còn đi xa vấn đề. Xin đơn cự một trích dẫn mà tác giả Lê Anh Dũng trong tác phẩm của mình đã bàn về tính dục của Bát Giới như sau: “ Gắn cho Bát giới chiếc đầu heo, phải chăng Ngô Thừa Ân đã cố tình buộc anh chàng vào những rắc rối tính dục? Nếu Sigmund Freud (1856-1939) có dịp phân tích, biết đâu sẽ thêm được vài phát kiến bổ sung cho lý thuyết về tính dục của ông. Trong truyện Tây du ít ra có hai đoạn tiêu biểu. Một, ở Hồi thứ 23, đoạn kể bà góa họ Giả kén rể. Để giúp Bát giới chọn một trong ba cô con gái làm vợ, bà gợi ý: “Ba đứa con gái ta khéo tay lắm, đứa nào cũng có móc một chiếc áo lót bằng sợi gấm trân châu, con mặc vừa áo của đứa nào, thì mẹ gả đứa ấy cho.” Bát giới khoái chí, liền nhanh nhảu: “Mẹ mang ngay cả ba chiếc áo ra đây để con mặc thử, con mặc vừa tất là con sẽ lấy tất đấy.” Người đàn bà quay vào trong nhà, rồi chỉ mang ra một chiếc đưa cho Bát giới. Anh chàng cởi phăng chiếc áo gấm xanh đang mặc ra, giật lấy chiếc áo lót con gái, mặc ngay vào người… [TDK III 1988: 69]. Hai, ở Hồi thứ 72, đoạn kể Bát giới trêu ghẹo bảy con yêu nữ nõn nà ở suối Trạc cấu. Khi tận mắt chứng kiến bảy cô ả đang… “trăm phần trăm” ngâm mình dưới suối, trông thật tươi mát, thì Bát giới mừng rơn, cười nói: “Các nữ bồ tát đang tắm đấy à? Cho hòa thượng tôi tắm cùng được không?” Nói là làm. Cựu Thiên bồng Nguyên soái nhà ta ỷ mình thạo nghề sông nước, liền “cởi tuột chiếc áo dài bằng gấm thêu, rồi nhảy tòm xuống nước (…) biến thành một con cá trê, (…) cứ nhanh như cắt luồn quanh kẽ đùi mấy nữ quái.” [TDK VIII 1988: 45-46]. Nói theo ngôn ngữ tính dục của Sigmund Freud, việc khoái mặc áo lót đàn bà con gái cho thấy Bát giới có triệu chứng bị bệnh fetishism; còn việc hòa thượng ta cắc cớ biến làm cá trê cứ nhè kẽ đùi con gái người ta mà quậy tưng chứng tỏ anh chàng bị cái gọi là libido chi phối” . Cái mà tác giả Lê Anh Dũng gọi tên trong đoạn trích này là Fetishism ( Sự kích dục), libido ( như là lý thuyết về tình dục) và sắp đặt nó vào trong tác phẩm đã là một sự sai lầm, gán cho Trư Bát Giới bản năng tình dục lại là sự sai lầm nữa. Bởi lẽ điều mà tác giả Lê Anh Dũng nói đến không ngoài cái mà giới nghệ thuật gọi là “ Nu”. Nếu theo kết quả nghiên cứu về văn học Trung Quốc nói riêng và nghệ thuật Trung Quốc nói chung của giáo sư người pháp Francois Jullien thì: “ …Tất cả chỉ ra tính sáng tạo của cái Nu trong nghệ thuật, hiện tượng đó gắn liền với văn hóa Châu Âu chặt chẽ đến nỗi ta chưa từng thoát ra được . Chính nó kết liền phương Tây từ bờ này sang bờ kia đại dương, từ thời đại này sang thời đại khác, ngay cả từ nền nghệ thuật này sang nền nghệ thuật khác…Ngược lại, nếu có một không gian văn hóa rộng lớn mà cái Nu chưa hề thâm nhập, hoàn toàn không được biết đến đó chính là Trung Quốc. Điều đó thật đáng ngạc nhiên vì truyền thống nghệ thuật Trung Quốc đã phát triển sâu rộng hội họa và điêu khắc các nhân vật…” ( Francois Jullien, dịch giả: Trương Thị An Na, Cái Nu không thể có , 2005, NXB Đà Nẵng ) và phía cuối của đoạn trích tác giả của cuốn sách kết luận: “ Cái Nu gợi ý cho ta nhiều điều trong cuộc truy tìm muôn thuở cái tự- thân và cái hiện- hữu, mở ra như vậy một lối rõ rệt với bản thể học . Đồng thời nó làm hiện ra một đối tượng mới mà chúng ta tò mò muốn biết, vì đối tượng này chỉ được phân định bằng sự khiếm diện của chính nó : “Cái Nu không thể có” ”.Khẳng định “Cái Nu không thể có”, GS. Francois Jullien đã thay chúng ta nói về nhận định trên của tác giả Lê Anh Dũng, nếu chỉ căn cứ vào bề mặt câu chữ mà vội vàng kết luận , e rằng chưa thỏa. Khi xem xét một văn bản ngôn từ, không phải và cũng không nên là “võ đoán mà đặt tên”. Cần phải đặt văn bản ngôn từ ấy trong hoàn cảnh làm nảy sinh nó, cũng như người tạo dựng nên nó. Theo như Lỗ Tấn biên khảo, sưu tầm và nghiên cứu thì: “Ngô Thừa Ân tên tự là Nhữ Trung, hiệu là Xạ Dương Sơn nhân tính người lanh lợi khôn ngoan, đọc rộng hết mọi sách, lại giỏi hài kịch, có viết một số tạp ký, nổi tiếng một thời. Là cống sinh niên hiệu Gia Tĩnh sau làm thừa lại huyện Trường Hưng”. Như vậy trong lý lịch của Ngô Thừa Ân, nhà phê bình Lỗ Tấn đã đề cập đến khả năng miêu tả hài kịch của ông. Gs.Nguyễn Khắc Phi trong cuốn sách có nhan đề “Lịch sử văn học trung quốc” ( tập II, NXB ĐHSP), cũng có cùng quan điểm trên như Lỗ tấn khi tác giả cho rằng: “Đó là tài năng hài hước của ngòi bút tác giả ( Ngô Thừa Ân-ND ), làm cho Tây du ký trở nên nhiều sắc thái, có cái anh hùng mạnh mẽ phi thường, lại có cả cái tia sáng thú vị của cuộc sống đời thường ấm áp” ( Sđd. Tr,89). Liệu có phải chủ quan, nếu chúng tôi cho rằng chính yếu tố này là cơ sở tạo nên sự hiểu lầm trên của tác giả Lê Anh Dũng, hơn nữa dù cho Ngô tiên sinh có ý định miêu tả cái Libido hay Fetishism thì yếu tố ấy cũng chỉ dừng lại ý tưởng nhà văn mà thôi, khó có thể đi vào hiện thực tác phẩm. Bởi thời đại ông không cho phép tác phẩm của nhà văn làm những điều mà các văn sĩ hiện đại có quyền làm, minh chứng rõ nhất là bộ tiểu thuyết “ Kim Bình Mai”, được các văn sĩ phong kiến cho là dâm thư ( cũng ra đời trong thời đại Minh trị). Ngay sau khi ra đời đã nhanh chóng tắt tiếng trên văn đàn và người ta chỉ biết đến tác giả của nó với cái tên gây hài là Tiếu Tiếu Sinh. Nếu quan điểm trên có trong tác phẩm của Ngô tiên sinh, ắt hẳn rằng nó khó tồn tại lâu, nhanh chóng sẽ biến mất giống như người bạn cùng thời đại của nó : “Kim Bình Mai” và Ngô tiên sinh cũng khó mà dùng tên mình để đề ở phía dưới tác phẩm.
Có lẽ chúng tôi đã ham vướng vào cuộc bàn luận trên quá nhiều, mà bẵng đi mục đích chính. Song, giải quyết vấn đề trên cũng là để tạo nền cho việc giải quyết vấn đề dưới nằm trong mục này. Sự tham lam của Trư Bát Giới, ai cũng thấy rõ và cũng chẳng cần phải bàn luận nhiều. Nhưng, điều đáng nói ở đây là trong cuộc hành hương về xứ phật ấy, Ngộ Năng đã nhiều lần tự mình đấu tranh với chính mình; gạt bỏ, thanh lọc dần những bản năng tiêu cực để chạm gần tới chữ Ngộ ( 悟) hơn. Điều mà có lẽ bạn đọc dễ nhận thấy nhất ở Trư Bát Giới, ấy là tính ham sắc. Nhưng cũng chính yếu điểm ấy của anh, lại là bước chuyển mình đưa đến sự tỉnh lược dần lốt heo mà “Ngọc Hoàng đã trao tặng” : “ Chỉ sợ ta không lấy được kinh, quay về hoàn tục, sẽ sống với con gái ông như xưa” (H.19). Đây phải chăng là một mơ ước?. Chính mơ ước về một gia đình đầm ấp, bàng bạc nghĩa tình đã khơi dậy trong Trư “giá trị của một con người”. Cái vốn quý báu nhất của con người, đó là được mơ ước và quyền được thực hiện mơ ước ấy. Sẽ là gì đây, nếu như con người thiếu đi ước mơ. Biết mơ ước và thường trực về lẽ bình dị ấy, Trư Bát Giới đã gạt bỏ dần một phần thô kệch trên hình dạng của mình. Khiến khuôn mặt dị thường của một con heo vốn được đặt trên hình dạng con người, đã thêm phần nhân tính. Điều này có phần phù hợp với quan điểm của GS. Nguyễn Khắc Phi : “ Đối với người mang nặng thói quen sản xuất nhỏ, gia đình có sức hấp dẫn đặc biệt quan trọng” (Sđd. Tr, 88) .
Điều đáng nói rằng, đã có lúc Bát Giới có sự lấp lửng trong việc lựa chọn giữa “Thiền môn” và “gia môn”; giữa một bên là cuộc sống gia đình và một bên là sự tịch diệt nơi niết bàn. Biết chọn gì đây, đứng trước sự khó khăn ấy cửa Thiền vẫn tỏa rạng phía trước con đường đi của chàng. Đây là đoạn trích để minh định cho sự luận giải trên: “ Tôi xin kính lời cùng nhạc mẫu và đại di nhị di cùng bà con ở lại bình an, nay tôi đi tu làm hòa thượng, không kịp từ giã, xin rộng dung miễn chấp, xin trượng nhân coi giùm ở nhà tôi, nếu tôi đi thỉnh kinh không xong, thì sẽ trở về như cũ. Hành giả hét lớn rằng: Đừng có nói bậy!. Bát giới nói: Anh ơi! Tôi e đi tu không thành thì ắt là làm hòa thượng không xong, mà lại khó cưới vợ, phải là lỡ giở hay không ?”, lại có đoạn nói với Ông Sào trong núi Phù Đồ: “ Xưa nhờ ơn quan âm khuyên biểu, dạy ngày nay đi với thầy tôi” ( H. 19). Việc chọn đi tu của Bát giới nói lên điều gì?, có phải chỉ thuần nhất là con đường thỉnh kinh?. Thiết nghĩ rằng, câu trả lời có ở mỗi bạn đọc. Chúng tôi không có ý áp đặt cách suy luận của mình cho độc giả, mà chỉ mong muốn giãi bày đôi niềm tâm sự. Niết Bàn xa xôi nơi Tây Trúc, đã từ lâu là mơ ước của các tín đồ Phật giáo. Hết lớp người này, tới lớp người khác đã vượt qua biết bao cửa ải của kiếp tu định, chỉ mong được chạm tới nơi cuối đời . Với một người ham sống như Bát Giới, nói rằng tìm về của Phật là để thỏa nỗi lòng của kẻ chân tu, e rằng chưa hợp lý. Theo chúng tôi có lẽ ngoài nhiệm vụ được giao của Quan thế âm Bồ Tát bảo vệ Đường Tăng, hẳn trong suy nghĩ của mình Trư Bát Giới cũng nhận ra lợi ích của việc thỉnh kinh: Ấy chính là sự Ngộ giải chân lý cuộc đời. Lẽ dĩ nhiên sẽ không thể thuyết phục, nếu như thuần lý thuyết chỉ là “sự gọi tên” mà không minh giải nó. Chúng tôi quan niệm việc thỉnh kinh của Trư Bát Giới chỉ là “Ngộ giải chân lý cuộc đời”, mà không cho đây là sự “Ngộ giải chân lý Phật pháp”. Thoạt tiên tưởng hai quan niệm trên có cùng ý hướng, nhưng xét rõ thì hai chân lý ấy có một khoảng cách khá xa nhau. Nói đến chân lý cuộc đời người ta thường hình dung nó ở khía cạnh “đúc kết kinh nghiệm”, “trải nghiệm thực tiễn’, “chứng thực cuộc đời” mang tính duy vật biện chứng. Ấy là lúc con người “rơi vào bế tắc”, sau đó tìm ra đường đi êm ái hoặc phản kháng ; để rồi khái quát lên thành triết lý “Trong họa có phúc” hay “ tức nước vỡ bờ” và còn nhiều điều thú vị nữa. Đó là sự Ngộ giải được thoát thai từ chính những hành vi của con người, mà con người sử dụng những hành vi ấy để ứng xử và chống chọi với cuộc đời. Nói đến chân lý Phật pháp, lẽ thường gợi liên tưởng đến cảm quan tôn giáo. Do vậy chữ “Ngộ”, cũng cần phải được hiểu dưới nhãn quan tôn giáo. Chúng ta hãy khoan bàn đến tính tích cực hay tiêu cực mà cảm quan ấy đem lại, điều mà chúng tôi làm trong phép so sánh này chính là việc chỉ ra những khác biệt từ những luận điểm mang tính tôn giáo ấy.Chữ “Ngộ”, trong Phật giáo cũng mang nghĩa “nhận ra”, song tính chất của nó lại mang ý nghĩa kinh điển và có xu hướng ứng dụng chung. Do vậy, ở góc độ nào đó có thể nói bản thân sự Ngộ giải ấy vẫn chưa hề thoát thai khỏi lý thuyết tôn giáo. Đức Phật có nói: Đời là bể khổ, kiếp chúng sinh muốn thoát khổ thì phải tu tỉnh. Người ta diệt dục , tìm đến thiền môn liệu có phải chỉ là do “chịu quá nhiều đau khổ” trong cuộc đời?. Nếu vậy thì những lớp người sống trong nhung lụa hay chưa hề trải nghiệm cuộc đời, họ đi tu thì là do đâu?. Đã từng có cả một thời đại, mà các vương giả nhẹ nhàng rời bỏ ngai vàng của mình mà tìm đến cửa Phật, liệu có hoàn toàn là họ chịu nhiều đau khổ nên mới phải đi tu hay là vì một nguyên nhân khác. Xin để ý hoài nghi này để bạn đọc tự chứng nghiệm. Quay trở lại ý ban đầu đã đề cập ở trên khi cho rằng Trư Bát Giới chọn con đường thỉnh kinh là để tìm ra chân lý cuộc đời. Đến đây hẳn rằng sẽ có người thắc mắc: Nói chứng nghiệm chân lý cuộc đời có nhiều con đường, vậy có nhất khoát Trư Bát Giới lại chỉ chọn con đường thỉnh kinh?. Tác phẩm văn chương là đứa con tinh thần của người nghệ sĩ, họ phải luôn trăn trở, xoay đi tính lại với nó. Do vậy dù ít dù nhiều nó cũng mang cảm quan cá nhân. Xét hoàn cảnh nơi nhà văn sống và sáng tác ấy là giai đoạn Minh trị, khi cuộc sống của con người vẫn bị vây tỏa bởi vòng xiềng phong kiến thì nỗi khổ của chúng dân là quá rõ. Do vậy nếu để nhân vật của mình chứng nghiệm trong xã hội ấy, thì có lẽ bản thân Ngô tiên sinh cũng nhận thấy chẳng có gì đặc biệt để nhân vật của mình thay mình nói lên lời triết lý. Có lẽ vì thế mà Ngô tiên sinh đã cố tạo nên không gian nghệ thuật cho tác phẩm của mình là con đường thỉnh kinh. Chúng ta hãy khoan bàn luận về sự xuất hiện của Ngọc Hoàng, bởi đã không ít ý kiến này nọ cho rằng Ngọc hoàng xuất hiện là hình ảnh biểu trưng cho người thuộc tầng lớp trên trong xã hội phong kiến, cụ thể là ý kiến của Gs. Lương Duy Thứ khi tác giả nhận định: “Tác giả đả kích, thậm chí lật nhào toàn bộ đời sống tinh thần của xã hội phong kiến, từ Ngọc Hoàng, Long vương, Diêm vương đến Nho giáo, Đạo giáo.v.v…Mặt đối lập của tác phẩm vô cùng lớn”(Sđd.Tr,58). Chỉ căn cứ vào chi tiết “Tôn Ngộ không náo động thiên cung” mà giáo sư Lương Duy Thứ đưa ra quan điểm phản phong e rằng chưa hợp lý, bởi chính giáo sư trong một đoạn đã phát biểu: “Phải chăng “Tây du” là điển hình cho một con người, Tam tạng điển hình cho lý trí, tề thiên cho sức mạnh…” (Sđd.Tr,57). Thừa nhận Tam tạng là biểu trưng của lý trí, tề thiên biểu trưng cho sức mạnh. Sức mạnh phải phục vụ cho lý trí. vậy việc náo loạn thiên cung là do sức mạnh chứ không phải là do lý trí, vì Ngộ Không làm việc đó không phải theo sự chỉ đạo của Tam Tạng (Lý trí), hành động ấy xuất hiện ngay cả trước khi xuất hiện Tam Tạng. Vậy chỉ có sức mạnh mà không có lý trí thì sao có sự lật đổ được cả một triều đại , có chăng nếu lật đổ được thì cũng chỉ theo kiểu “ châu chấu đã voi”, để rồi sau đó lại bị chính con voi to lớn ấy đè bẹp. Vậy thì sao có thể gọi là : “lật nhào toàn bộ đời sống tinh thần của xã hội phong kiến”, về mặt thể chế còn khó làm lung lay thì thử hỏi “Tinh thần của xã hội phong kiến” liệu có lật nhào được không?. Bởi tinh thần chỉ khuất phục và bị đánh bại khi thể chế bị sụp đổ ( Vật chất quyết định ý thức- Triết học Mác-Lênin).Theo chúng tôi trong Tây Du Ký, Ngô tiên sinh tạo dựng cho nhân vật của mình hiện diện trong không gian nghệ thuật của con đường thỉnh kinh là có lý, bởi chỉ có tìm đến cửa Thiền thì con người mới có khái niệm “tự do”, mới có khái niệm “dân chủ” (Theo quan điểm phiếm thần luận của Phật giáo cho rằng: vạn vật đều có chung một bản thể, cho nên trước Đức Phật con người đều được bình đẳng như nhau). Khi được tự do thì con người mới có dịp để chứng nghiệm thực tiễn, trên cơ sở đó mới rút ra được triết lý cuộc sống. Có lẽ để tăng phần hấp dẫn và thêm phần thử thách, nên Ngô tiên sinh đã chủ động sắp đặt cạm bẫy (Gồm yêu tinh và thần tiên, như biểu trưng của cái thiện và cái ác, nhiệm vụ của nhân vật chính phải biết phân biệt đâu là thiện đâu là ác. Bởi có cả cái tưởng như thiện (thần tiên), nhưng rốt cục cũng chỉ là “Cáo đội oai hùm”) như là sự thử thách, để rồi bắt nhân vật của mình phải trả lời nhưng câu hỏi sau khi đi ra từ thử thách ấy. Một tiếng hú nơi rừng sâu núi độc, một chút sương lạnh mang hơi thở ma quái chốn hang cùng ngõ hẻm cũng khiến cho độc giả phải lạnh xương sống. Thầy trò Trư Bát Giới đã trải qua chín chín tám mốt nạn với những khổ hạnh ấy, tưởng như tới cõi Phật rồi là sẽ không còn kiếp nạn nữa. Ấy thế mà đâu có được yên, một cơn cuồng phong toan nhấn chìm thầy trò họ Trư xuống đáy sâu của dòng nước. Nhưng may thay, chính kiếp nạn ấy lại lại giúp cho Trư Bát Giới “Ngộ” ra nhiều điều: “Người phàm tác tệ đã xong, ai dè Phật Kim cang cũng tác tệ, đã vâng chỉ Phật đưa về Đông Độ, sao nửa chừng lại bỏ xuống, thiệt là không nổi tới lui…” ( H.99), việc phát hiện ra kinh nhà Phật đều là kinh vô tự đã nói thay lời Ngô tiên sinh: Ngay đến cả cửa Phật, cái ác cái xấu vẫn còn hiện tồn, huống gì nơi sự thế. Một vài tờ kinh bị rách trong lần nhận kinh thứ hai cũng nói cho độc giả nhiều lắm: Quả đất tưởng như là hình tròn, vậy mà hóa ra lại là hình cầu ( Lời dẫn của Hương Giang); Khổ tận cam lai, huống tưởng rằng sẽ lấy kinh về trong sự trọn vẹn, vậy mà vẫn thiếu đi một chương. Do vậy có thể nói : Cuộc đời là một vòng luẩn quẩn và tất cả cũng chỉ dừng lại mang tính tương đối, cái tưởng trừng như là chân lý nơi cửa Thiền vẫn còn đó những ẩn tàng của cái phi lý. Nhận ra những triết lý ấy đối với Trư Bát Giới (Tất nhiên tác giả không để cho nhân vật Trư nói lên lời triết lý, nhưng căn cứ vào hành động của chàng chúng ta đều có thể suy luận ra điều hiển nhiên này) đã chứng tỏ bản chất NGƯỜI trong Trư. Thiết nghĩ rằng Bát Giới có phần còn hạn chế, nhưng sự ngộ nghĩnh trong suy nghĩ ngây thơ của chàng cũng phần nào đó khiến độc giả có lúc phải ngoái lại nhìn sau khi đã yên giấc trong ảo ảnh của phép lạ. Kèm với đoạn văn sau đây được trích dẫn trong tác phẩm, chúng tôi hoàn toàn có cơ sở để khẳng định: “Trư Ngộ Năng- anh là một con người” : “ Ngày trước quan âm đã bạch với Như Lai, định nội tám ngày cho đủ số một tạng, nay đã năm ngày rưỡi, sợ bát giới tham yến tiệc chắc trễ nải ngày giờ”. Bát Giới cười rằng: “ Sư phụ thành phật, tôi cũng muốn thành phật, lẽ nào lại còn mê yến tiệc sao?, vả lại tôi ăn một bữa cơm tại chùa Đại Lôi Âm, tới bây giờ còn đặc ruột, lẽ nào mê yến tiệc phàm trần…” (H.100) . Hàng ngày phàm ăn là thế, vậy mà với sự đốn Ngộ trước cuộc đời có sức mạnh lay chuyển thói quen tưởng như đóng cữu ấy thì quả thực Bát Giới đã là một con người , chứ không thể là “con lợn lòng của loài người” ( LDT) như đã nhắc đến ở trên. Có những thứ tưởng như bình thường, nhưng ít khi con người ta để ý. Một chi tiết nhỏ trên của chàng Trư cũng đáng để ta suy nghĩ lại chức năng “CON NGƯỜI” của mình.
*****
Ánh hào quang yếu ớt tỏa ra từ phía của một con người
Tiêu đề đặt ra cho mục này có phần thật lạ và tưởng trừng như mâu thuẫn, khẳng định: “Trư Ngộ Năng- anh là một con người”, vậy cớ sao còn là “ánh hào quang yếu ớt”. Văn chương là tiếng nói từ trái tim ra cuộc sống, tiếng nói ấy khi là chân lý nhưng khi lại tưởng như phi lý. Song, nói như Káp-ka thì: “Tôi đi tìm sự phi lý trong chính cái phi lý”, phải chăng vì vậy văn chương là một hỗn thể phức tạp đa hình, đa dạng; nó vừa phản ánh thế giới nhưng lại vừa sáng tạo ra thế giới (thế giới hình tượng), nó vừa có tính thực tiễn nhưng lại vừa ẩn tàng tính dự báo. Chúng tôi sắp đặt mục này cũng vì mục đích làm rõ thêm nội dung đề tài, nhưng cũng là cơ hội để giải mã thêm ý đồ của Ngô tiên sinh: Dự báo về tương lai loài người. Trước khi tiếp tục làm công tác minh giải vấn đề, xin được nhắc lại tiêu đề mà chúng tôi đã lựa chọn: Trư Bát Giới- Khoảnh khắc được làm một con người”. Trong tên của đề tài chúng tôi có nhắc đến “khoảnh khắc”, đó là sự đứt đoạn về thời gian. Nhưng nó cũng là sự đứt đoạn của kiếp người, như trên phần 2 chúng tôi có đề cập đến chân lý cuộc đời mà không phải là chân lý Phật pháp. Đó là một sự hoài nghi. Tại sao Trư Bát Giới có cơ hội để trở lại lốt hình của Thiên Bồng nguyên soái, nhưng Ngô tiên sinh lại không để cho nhân vật mình có dịp thực hiện điều ấy. Trở lại với ban đầu ngay từ những hồi đầu tiên, các nhân vật của Ngô tiên sinh hiện ra với hình dáng nguyên sơ của nó: Ngộ Không mang lốt của một con khỉ ai cũng rõ, Đường Tăng là một chân tu từ đầu cho chí cuối đã là hiển nhiên, Sa tăng lúc được đốn ngộ như nào thì sau khi rời cửa phật vẫn vậy. Bạch mã vốn là một hoàng tử nơi thủy cung được giao nhiệm vụ hóa thành ngựa trắng để theo phục vụ Đường Tăng, tuy tác giả không nói rõ về sau nhân vật này có được trở lại lốt hình hài như ban đầu không. Song, độc giả ai cũng suy luận được nhân vật này đã được hóa giải khỏi lốt ngựa, bằng chứng là kết thúc ở hồi 99 và 100 hình ảnh bốn thầy trò Đường Tăng cùng cưỡi mây về kinh đô đại Đường , mà không hề thấy xuất hiện hình ảnh của ngựa trắng. Chỉ riêng có Trư Ngô Năng lại là sự biến tấu phức tạp trong một bản nhạc, mà nhạc điệu của nó vốn rất hợp ý với nhau. Theo lý giải thoát của nhà Phật thì sau khi đốn Ngộ đáng lẽ ra tất cả sẽ được hóa giải. Vậy mà dường như cái lý ấy đã phản tác dụng với Bát Giới, tại sao vậy?. Có lẽ Bát Giới chỉ có thể là một con người, nhưng thành Phật thì vẫn còn phải thử thách, có thể thêm chín chín tám mốt nạn hay một trăm nạn nữa. Chúng tôi đưa ra quan điểm trên là có cơ sở để bấu víu, quả thật nếu như Bát Giới thành Phật thì lốt heo kia sẽ tan biến như sự tan biết của chiếc vòng kim cô trói buộc trên đầu Ngộ Không. Nhưng lốt heo ấy vẫn còn, vậy dĩ nhiên chưa phải là Phật. Chưa phải là Phật, vậy chẳng lẽ vẫn là con vật?. Xin trả lời là không, bởi trên cái chán của một con heo vẫn còn hiện diện ánh sáng tỏa ra rạng rỡ từ ấn tín mà Phật Như Lai ban tặng, như là chứng nhận cho sự gọt rửa những bản chất tham xấu của phần con, giữ lại phẩm chất tốt đẹp của phần người. Như vậy ở Bát Giới phần con và phần người không tách biệt nhau, nếu không biết giữ gìn thì phần con ấy sẽ vượt cấp lấn át và hủy diệt phần người. Do vậy ranh giới giữa phần con và phần người là rất mỏng manh, nó giống như ánh hào quang bừng sáng lên nhưng rồi lại vụt tắt ngay sau đó, nếu như không biết cách giữ nó lại bên mình.
Vấn đề liệu có phải chỉ dừng ở sự luận giải trên không ?.Nếu chỉ dừng lại ở những vấn đề trên là chúng ta mới chỉ đi được hai phần ba chặng đường mà thôi, còn một phần ba chặng đường nữa vẫn chờ đợi được giải mã. Xây dựng lên nhân vật Trư Bát Giới, Ngô tiên sinh muốn gửi gắm điều gì, liệu có phải nhà văn xây dựng nhân vật của mình chỉ là để mà xây dựng không?. Điều mà chúng tôi muốn bàn thêm ở đây chính là tính dự báo của Ngô tiên sinh đối với tương lai loài nguời, được tàng ẩn trong nhân vật họ Trư. Lại một lần nữa xin đề cập trở lại tới tính tham của chàng Trư, như trên đã bàn không phải cái tham nào cũng xấu, cũng tiêu cực. Trong mỗi con người vẫn ẩn tàng những dục tính tốt đẹp, chẳng hạn vì nhân đạo mà con người tổ chức ra những buổi biểu diễn để quyên góp, ủng hộ người nghèo. Đó là nghĩa cử cao đẹp, nó phản ánh đúng bản chất nhân văn. Song, nếu không kiểm soát để cái dục tính ấy vượt qua mức thuần khiết của nó thì rất dễ trở thành tha hóa và đương nhiên buổi biểu diễn kia sẽ không còn là nghĩa cử đối với người nghèo nữa mà nó thực sự trở thành “ sự tiếp tay” cho những kẻ trục lợi. Do vậy, lời lẽ của Ngô tiên sinh gửi gắm vào nhân vật họ Trư có sức mạnh như một bài học khuyên răn con người, mà cho đến tận ngày nay nó vẫn còn nguyên giá trị.
*****
Thay lời kết luận
Văn học là một dòng sông, nhà văn là con thuyền trên dòng sông ấy. Nước chảy thuyền trôi. Con thuyền đi qua mọi bến bờ của thời gian, không gian và ở một nơi xa nào đó trên một bờ vắng đầy cỏ dại, nó đã cập bến mang theo những khuông hàng chất nặng suy tư. Để rồi mỗi khuông hàng ấy được trao đến tay độc giả những bài học, những cảm thức và những suy nghiệm mà nhà văn lưu giữ nó suốt chặng đường lênh đênh sóng nước. Ngô Thừa Ân đã đem sản phẩm tinh thần của mình vượt quá khứ xa xăm, băng qua mọi rào cản xã hội để đến với con người mới thế kỷ XXI, hòa điệu trong những khoảnh khắc đồng hiện của cảm xúc .Và rồi bước ra khỏi thế giới ấy, con người không khỏi ngỡ ngàng ngoái nhìn lại bản thân và hô to lên một tiếng như để tán thưởng cho giây phút thăng hoa .
“Our philosophy dare to suggest that the learner is a finite person, growing, when properly educated in to the image of an infinite person, that his real origin is deity, that his nature is freedom, and that his destiny is immorality” ( Nền triết học của chúng ta cam quyết rằng học trò là một con người hữu hạn, nó lớn lên thâu thái nền giáo dục riêng rẽ trong cái hình ảnh vô hạn định về con người, đó là con người mà nguồn gốc của nó là thần thánh, bản thể của nó là tự do và cứu cánh của nó là bất tử).
Note: (*) “ Cuộc đời là một giấc mộng”: Đây là lời phát ngôn của nhân vật Anđrây trong tác phẩm “Chiến tranh và hòa bình” của đại văn hào Nga Lep Tôn-xtôi
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lê Anh Dũng, Giải mã truyện Tây du, 2001, NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh.
2. Ngô Thừa Ân, Tây du ký, Tập I-X. Như Sơn, Mai Xuân Hải, và Phương Oanh dịch, 1982-1988, Nxb Văn học, Hà Nội.
3. Trần Xuân Đề, Lịch sử văn học Trung Quốc, 2002, NXB Giáo dục.
4. Nguyễn Hoàng Đức, Ý hướng tính văn học, 1999, NXB văn hóa dân tộc.
5. Nguyễn Khắc Phi, Lịch sử văn học Trung Quốc .T.2, 2002, NXB Đại học sư phạm.
6. Lỗ Tấn , Sơ lược lịch sử tiểu thuyết Trung Quốc. Lương Duy Tâm dịch, 1996, NXB Văn hóa-Thông tin, Hà Nội.
7. Lương Duy Thứ, Để hiểu 8 bộ tiểu thuyết cổ Trung Quốc, 2000, NXB Đại học quốc gia, Hà Nội.
8. Francois Jullien, Cái Nu không thể có, 2005, NXB Đà Nẵng.
9. Francois Jullien, Bóng trong bức tranh, 2005, NXB Đà Nẵng.
Và một số tài liệu, tạp trí khác (chỉ mang tính bổ sung cho suy luận)
No Tag

(5 votes, average: 4.60 out of 5)
Chàng Trư sẽ phải “nhịn ăn” mấy ngày khi biết bạn nghiên cứu về chàng ấy đấy. :-bd .Cảm ơn bạn đã cho chúng tôi có cái nhìn về chàng Trư thêm một khía cạnh khác.
bai viet rat hay
cong phu va do so
cuoi nam co the su dung lam bai bao dang o hoi thao khoa hoc
Hay! Như lời của FTA khen ngợi đấy!
Có lẽ phải tìm một chuyến nào gặp bạn để bình loạn văn thơ mới được.
Ái mộ!
quá hay
thực sự để viết được 1 bài luận như thế này thì người viết phải thật cung phu, tỉ mỉ lắm lắm!
cám ơn bạn đã cho những người đọc như chúng tôi được mở mang đầu óc, về cuốn truyện mà trước kia là cuốn để đầu giường của tôi
thực sự ái mộ bạn!
một lần nữa xin chân thành cám ơn bạn!
That cam on ban da doc bai cua minh!