Riffaterre và Thông diễn học cấu trúc [1]
Grham Allen
- Nguyễn Văn Thuấn dịch
- với sự cộng tác của Ngô Hương Giang
(Dịch thuật)
Tác phẩm của Michael Riffaterre có thể nói ở giữa những lý thuyết văn học: chủ nghĩa cấu trúc, chủ nghĩa hậu cấu trúc, kí hiệu học, phân tâm học, và vô số những lí thuyết khác về sự đọc. Còn có thể nói rằng tác phẩm của ông đặt niềm tin vào một sự giải thích vững chắc và xác đáng ý nghĩa văn bản và những mối quan hệ liên văn bản, mà trong chương này chúng ta đang gọi là chủ nghĩa cấu trúc.
Hạt nhân phương pháp kí hiệu học của Riffaterre là niềm tin của ông rằng các văn bản văn học không quy chiếu (mô phỏng). Trái lại, ông biện minh rằng chúng có ý nghĩa của chúng vì những cấu trúc kí hiệu kết ghép (link – up), những từ, mệnh đề, câu, hình ảnh then chốt, chủ đề và châm ngôn tu từ học cá nhân của chúng. Mở đầu bài nghiên cứu của mình, Semioties of Poetry (Kí hiệu học về Thi ca), ông viết rằng người đọc của ông cần phải “vượt qua chướng ngại mô phỏng” (Riffaterre, 1978:6). Trọng tâm của liên văn bản trong tác phẩm của Riffaterre được chú ý bởi phương pháp chống quy chiếu này, vì, như chúng ta thấy, lí luận liên văn bản biện minh rằng các văn bản và kí hiệu biểu đạt không phải thế giới hay thậm chí trước hết đến các khái niệm, mà tới các văn bản khác, các kí hiệu khác. Riffaterre thường xuyên ám chỉ đến cái ông gọi là “ảo tưởng quy chiếu” và thừa nhận rằng ‘văn bản đề cập không phải đến những đối tượng bên ngoài bản thân nó, mà đến một liên văn bản. Các từ của một văn bản biểu thị không phải bởi đang đang đề cấp đến một vật nào đó, mà bởi bao hàm các văn bản khác (1980b:228). Tuy nhiên, vượt qua ‘chướng ngại mô phỏng’ cũng có nghĩa là, với Riffaterre, trân trọng trả lại giá trị đúng cho ‘văn bản – tự đầy đủ’ (self-sufficient). Với Riffaterre, sự phân tích đúng đắn là hành trình khám phá để miêu tả tính chất đơn nhất của văn bản văn học. Trong khi thi học “khái quát hóa và phá vỡ tính đơn nhất của một tác phẩm trong ngôn ngữ thi ca”, sự phân tích văn bản kiểu Riffaterre thiên về việc quan tâm đến sự giải thích tính đơn nhất đó (1983:2). Riffaterre tuyên bố rằng “những văn bản có thể phân tích tốt nhất mà chúng ta tiếp nhận trong văn học nên là văn bản chứ không phải tuyển tập các văn bản” (sđd:5). Chính văn bản, bởi vì tính độc nhất của nó, có thể, như Riffaterre nói: “điều khiển sự giải mã chính nó” (sđd:6)
Cái là giá trị bề mặt của một sự khẳng định nghịch lý về liên văn bản và về tính chất đơn nhất tự đủ đầy của văn bản chỉ có thể giải thích được khi chúng ta tiếp xúc với những chi tiết cụ thể trong lí luận của Riffaterre về sự đọc và về văn bản. Tuy nhiên, nó ngay lập tức cảnh tỉnh chúng ta vừa đối với phạm vi nghiên cứu hạn chế Riffaterre cho phép đối với đối tượng thông diễn học và vừa tới niềm tin của ông rằng một đối tượng như thế có thể sản sinh sự đọc đúng hoặc hợp thức.
Mô hình chiến lược đọc mà Riffaterre tạo lập là mô hình nơi mà người đọc đầu tiên bị áp đặt tìm kiếm một văn bản mô phỏng, bởi những sự không xác định của văn bản, trong một sự nghiên cứu sâu hơn về những cấu trúc phi – quy chiếu của văn bản. Việc đọc, sau đó, xảy ra trên hai cấp độ lần lượt: đầu tiên, cấp độ mô phỏng, thử liên hệ những kí hiệu văn bản đến những quy chiếu bên ngoài và hướng theo một dạng mẫu tuyến tính; thứ hai, sự đọc có hiệu lực từ trước tiếp tục, theo một kiểu mẫu phi – tuyến tính, khám phá những đơn vị kí hiệu (học) và những cấu trúc cơ bản sản sinh ý nghĩa (sự biểu đạt) phi quy chiếu của văn bản. Cái áp đặt người đọc di chuyển từ một sự mô phỏng đến sự diễn giải kí hiệu của văn bản đang được nhận biết (là) cái mà Riffaterre gọi là ‘tính phi – ngữ pháp’ (ungrammaticalities) của văn bản. Đó là những phương diện của văn bản mà chúng mâu thuẫn, trái ngược trên một sự đọc quy chiếu nhưng được giải quyết khi chúng ta đọc lại văn bản trong những phạm vi của những cấu trúc kí hiệu cơ bản của nó.
Ví dụ, trong bài thơ dưới đây của Sylvia Plath, người đọc làm việc với một mô thức quy chiếu có thể cho rằng tiêu đề của bài thơ đề cập đến tên của chính người gửi (addresser); xem ra không có những lí do quy chiếu khác giải thích là tại sao bài thơ lại có tiêu đề này:
Bài hát của Mary
Chủ nhật con cừu be be trong khối mỡ của nó
Béo mập
Hiến tế sự trì độn của mình…
Một cửa sổ, linh thiêng màu vàng.
Ngọn lửa làm nó khác thường,
Như ngọn lửa
Gợi mối thương tâm những kẻ dị giáo béo mập,
Sự béo mập của họ phát ngấy cỗ xe
Qua vét sẹo của Ba Lan, bị nướng chín
Nước Đức
Họ không chết.
Những chú chim xám ngoét ám ảnh trái tim tôi,
Lỗ miệng tang tóc, tang tóc ánh mắt
Chúng đứng, trên cao
Vách đá
Trống rỗng một người đàn ông trong không gian
Những lò thiêu sáng rực như thiên đường, sáng chói
Nó là trái tim
Sự hủy diệt hàng loạt này Tôi bước vào,
Ôi, đứa trẻ bằng vàng thế gian sẽ giết và ăn.
(Plath, 1981:257)
Sự đọc bước đầu biểu hiện, cảnh tỉnh độc giả bắt đầu nhận thức một loạt những sự liên kết vào cái Riffaterre gọi là cấp độ kí hiệu, cấp độ mà chúng ta đạt đến sau cấp độ quy chiếu mà đối với chúng ta, đã không đủ khả năng giải thích văn bản. Bài thơ này đầy sự quy chiếu đến con người bị hành hạ vì niềm tin tôn giáo của mình: ‘những kẻ dị giáo béo mập’, những người Ki tô giáo và Tin lành bị hành hạ và bị giết sau phong trào Cải cách, người Do thái trải qua thời diệt chủng dưới ách chủ nghĩa phát xít; ‘một người đàn ông’ gợi nhắc chúng ta về Christ, bị hành hạ và bị đóng đinh trong sách Phúc âm (Gospel). Tạo ra những mối liên hệ đó, thì người đọc tiếp đó có thể nhận thức phương thức nơi mà hình ảnh nội tại, với nó bài thơ bắt đầu và kết thúc, một bà mẹ và đứa con xuất hiện ở ‘con đường chủ nhật’ được kết nối đến những sự biểu đạt mang tính lịch sử. Thực ra, chính người mẹ, được so sánh với Đức mẹ Mary (của Kinh thánh): con bà trở thành biểu tượng của hình ảnh – Chrits, người mà thế giới “sẽ giết và ăn”. Sự liên hệ kí hiệu giữa hình ảnh nội tại và những quy chiếu lịch sử bị đặt ra ngoài ở dòng cuối cùng, trên cấp độ này xem ra để ám chỉ đến Lễ ban thánh thể của đạo Cơ đốc nơi mà thân xác của Chrits được gợi nhớ lại trong sự kiện uống rượu vang và ăn bánh mì. Giải thích bài thơ trong phương thức đó, thì, chúng ta cần phải chuyển từ cấp độ mô phỏng tới cấp độ kí hiệu nơi mà những hình ảnh đa nghĩa và lối diễn đạt mơ hồ hiển nhiên được liên kết vào cấp độ phi – quy chiếu, sâu hơn.
Riffaterre chống lại quan niệm phê bình văn học truyền thống về ‘tính mơ hồ, đa nghĩa (ambiguity)’ và vô số lý giải hậu cấu trúc và giải cấu trúc về khái niệm đó. Trong khi những khái niệm như sự đa nghĩa hay sự mơ hồ phục vụ cho việc nêu bật khả năng không thể quyết định được về ý nghĩa văn bản, Riffaterre thích thú thay thế những hình ảnh có nhiều khả năng thay thế và những khái niệm có tính cách giải thích mà với chúng, tác phẩm củng cố quan niệm về một sự chuyển dịch từ tính đa nghĩa hay tính phi- ngữ pháp trước đó trên cấp độ mô phỏng tới sự lựa chọn cuối cùng trên cấp độ kí hiệu. Chống lại khái niệm mơ hồ, đa nghĩa (ambiguity), Riffaterre đưa ra thuật ngữ có tính chất tu từ học, syllepsis, một từ mà muốn nói nó có ý nghĩa trong một văn cảnh này nhưng trong văn cảnh khác lại có ý nghĩa đối lập hoặc mâu thuẫn. Một thuật ngữ khác thường được viện dẫn bởi Riffaterre, ‘interpretant’ (nhận hiểu hoặc giải nghĩa) (interpretant: một trong ba yếu tố của tam giác biểu nghĩa theo lý thuyết của Peirce, được thông diễn học dùng như là một trong ba giai đoạn thông diễn đối tượng: giải thích, giải nghĩa và chuyển nghĩa, ba giai đoạn này diễn ra lần lượt (NVT&NHG chú thích)) được dẫn xuất từ nhà ngôn ngữ C.S Pierce và cũng nhấn mạnh khả năng quyết định những yếu tố văn bản không thể quyết định được bằng sự chuyển đổi tới chiều kích khác, tính cấu trúc mạch lạc hơn. Một sự nhận hiểu/giải nghĩa (interpretant), Riffaterre cho những người đọc của ông biết, là một kí hiệu, chúng giải thích quan hệ giữa kí hiệu này và kí hiệu khác ‘Sự khủng bố (Persecution) có thể mang chức năng như một sự nhận hiểu/giải nghĩa (interpretant) trong bài thơ Mary’Song.
Trong lí thuyết của Riffaterre về sự đọc, thì, chúng ta vượt qua rào cản mô phỏng bằng việc chuyển đến cấp độ cấu trúc mạch lạc hơn của kí hiệu. Ví dụ, trong thơ của Plath, sự liên hệ giữa hình ảnh nội tại và những hình ảnh về sự khủng bố và sự giết chóc có thể được xem như phi – ngữ pháp trên cấp độ quy chiếu (Riffaterre không hạn chế tính phi ngữ pháp để can thiệp vào những nguyên tắc liên quan đến sự thiết lập các câu). Để tạo nghĩa cho văn bản của Plath chúng ta cần miễn trừ quan niệm rằng nó có cái gì đó tầm thường để nói về thế giới và chuyển tới một sự nhận thức rằng, ý nghĩa của nó, hoặc cái Riffaterre gọi là ‘significance’, dựa vào một sự đảo lộn của những sự kết hợp văn hóa thông thường: thí dụ như, việc chế nhạo cay độc về một đàn cừu không được liên kết tới những sự kiện lịch sử. Bài thơ nghịch chuyển (đảo ngược) những sự kết hợp văn hóa thông thường bằng cách đưa đến sự chế nhạo “con cừu chủ nhật” như một lời ám chỉ hàng loạt sự quy chiếu đến những cảnh bạo lực trong lịch sử. Chúng ta từng nhận thức về sự đảo lộn của ngữ cảnh này và diễn ngôn thông thường đối với ngữ cảnh đó, chúng ta thừa nhận nguyên tắc hay hệ thống kí hiệu học hướng đến mà toàn bộ bài thơ dựa vào, và từ chúng, nó không chỉ tạo ra sự biểu đạt chính nó mà còn thống nhất đặc tính của nó.
Với Riffaterre, văn bản sản sinh ý nghĩa của chúng từ những biến đổi của diễn ngôn văn hóa thông thường, cái mà ông gọi là ‘sociolect’ (biệt ngữ xã hội). Ý nghĩa của văn bản, chúng ta có thể nói, phụ thuộc vào một idiolect (biệt ngữ cá nhân), nó biến đổi một yếu tố có thể được nhận biết của biệt ngữ xã hội (socialect) bằng những ý nghĩa về sự trái ngược, sự trao đổi, sự triển khai hay sự liền kề nhau. Con đường người đọc nhận biết sự biến đổi này và nhận biết đặc tính kí hiệu của văn bản, là khám phá cái Riffaterre gọi là matrix (ma trận) của thơ ca, một từ, cụm từ hay đơn vị câu không nhất thiết tồn tại trong chính văn bản, mà chúng tái hiện phần cốt lõi trên chúng cái hệ thống kí hiệu của văn bản dựa vào. Vì Riffaterre nói: “Ma trận là giả thuyết, chỉ là sự hiện thực hóa tính ngữ pháp và từ vựng của một cấu trúc” (1978:19). Sự thống nhất cấu trúc của một văn bản được sáng tạo bởi sự chuyển dịch của ma trận này. Trong thơ của Plath, ma trận có lẽ liên quan đến giả định văn hóa thông thường rằng, những người mẹ khao khát bảo vệ tính trong trắng của những đứa con của họ hoặc rằng bảo vệ tính trong trắng ấu thơ là một điều quan trọng khi chủ nghĩa cá nhân xuất hiện ở tuổi trưởng thành. Vì bài thơ của Plath nhấn mạnh vào cái ‘thế giới’ liên quan đến việc tìm kiếm để củng cố niềm tin tôn giáo và do đó tìm kiếm một loại trong trắng tinh thần, bài thơ có thể nói trở thành tác phẩm bởi nó phủ nhận một ma trận có thể giải thích trong thơ kiểu như cách nói sau: “nghèo là trong sạch”, (cầu chúa là vô tội)…
Chỉ khi chúng ta nhận biết ma trận và vượt qua ý nghĩa kí hiệu học của văn bản, nhận biết vô số những ‘tính phi ngữ pháp’ hiển nhiên của văn bản trở nên có thể hiểu được như đang nói đến một cấu trúc ‘bất biến’. Cấu trúc ‘bất biến’ là cách thức nơi mà mọi yếu tố của văn bản có thể được nói là tác phẩm bởi sự biến đổi ma trận. Cấp độ thiết yếu này của văn bản có thể được chỉ dẫn bởi những phương diện mà, chúng không phải là ma trận, đánh dấu hoặc biểu hiện nó theo cách đó. Đây là cái Riffaterre gọi như là ‘mô thức’ (model), và với bài thơ của Plath chúng ta có thể hình dung về mô thức diễn đạt như là: “sự trong trắng hoặc sự tinh khiết hoặc sự trung thành là những vật tế thần của thế giới”. Cách diễn đạt như thế có thể cảnh báo người đọc đến ‘hệ thống miêu tả’ thông thường kết hợp với những từ ‘trong trắng’, ‘tinh khiết’, ‘trung thành’: một hệ thống miêu tả mà chúng sẽ bao gồm một loạt các quan niệm đề cập đến những tình huống và những ngữ cảnh đối lập trước đó tới những dẫn chứng trong bài thơ. Các văn bản, trên mô thức này, là những sự phát triển và mở rộng của những đơn vị biểu đạt nhỏ. Vì Riffaterre viết:
Bài thơ do sự chuyển dịch của ma trận mà ra, một câu tối thiểu và theo nghĩa đen thành một lời nói vòng vo dài dòng hơn, phức tạp và không – tầm thường. Ma trận là giả thuyết, chỉ là sự hiện thực hóa ngữ pháp và từ vựng của một cấu trúc. Ma trận có thể được thu nhỏ lại trong một từ, trong trường hợp mà từ sẽ không xuất hiện trong văn bản. Nó luôn được hiện thực hóa trong nhiều biến thể liên tiếp; hình thức của các biến thể đó bị chi phối bởi sự hiện thực hóa trước đó hoặc đầu tiên, mô thức. Ma trận, mô thức và văn bản là những biến thể của cùng một cấu trúc” (Riffaterre, 1978:19)
Riffaterre là người đọc thân thiết xuất sắc của các văn bản, phương thức đặc trưng của ông về việc biểu hiện những vấn đề có tính lí luận đã trình bày trở thành những sự diễn giải phức tạp về những văn bản điển phạm. Cách tiếp cận đó dẫn chúng ta tới những khái niệm then chốt được năng sản một cách tinh tế. Cố gắng theo sau quan niệm của ông về văn bản và liên văn bản, thực vậy, là một trải nghiệm nơi mà các từ chìa khóa như là ma trận (matrix) và mô thức (model) hướng đến pha trộn và hòa kết vào nhau. Quan tâm của Riffaterre là với cái để đọc, với cái để sản sinh một văn bản. Ông không quan tâm đến, đó là, với cái có thể thiết lập những chiều kích không thay đổi của bản thân hệ thống văn học. Sự quan tâm này với hiện tượng học về sự đọc có thể được nhận thức rõ hơn trong mối quan hệ không rõ ràng minh xác được vẽ ra trong công trình của ông giữa quan niệm về liên văn bản (intertext) và ‘hypogram’. Việc hiểu những thuật ngữ đó mang chúng ta lại gần hơn với quan niệm của Riffaterre về liên văn bản.
Riffaterre phân biệt giữa cái ông gọi là liên-văn bản (inter-text) và tính liên văn bản (intertextuality). ‘Cái sau’, ông viết, ‘là mạng lưới các chức năng mà chúng thiết lập và điều chỉnh quan hệ giữa văn bản và liên văn bản (intertext)’ (1990a:57). Vì ông tuyên bố, liên-văn bản không được xem xét trong các phạm vi của ‘nguồn gốc’ và do đó trong những phạm vi nguồn gốc ý đồ của văn bản: “ảnh hưởng [bởi] hoặc sự bắt trước” [của] văn bản hoặc một nhóm văn bản khác. Một liên-văn bản thích hợp là:
một tập sao lục của các văn bản, những mảnh vụn văn bản hoặc văn bản – như những phân đoạn của biệt ngữ xã hội (socialect) chia sẻ một từ vựng (từ điển cổ xưa) và, tới một sự kéo dài mở rộng ít hơn, một cú pháp với văn bản mà chúng ta đang đọc trực tiếp hay gián tiếp trong hình thức của những từ đồng nghĩa hay thậm chí ngược lại, trong hình thức của những từ trái nghĩa (antonyms). Thêm vào đó, mỗi thành viên của tập sao lục này là một sự tương ứng cấu trúc của văn bản” (Riffaterre, 1984:142)
Nguồn gốc ý nghĩa của một văn bản là không thể được tìm thấy, Riffaterre đang đề cập, bởi việc phát hiện một văn bản hay một nhóm văn bản mà chúng được cho là nằm đằng sau nó; những văn bản cụ thể trước đó chỉ cần được viện dẫn nếu tồn tại những văn bản như vậy đủ tiêu biểu cho khía cạnh của biệt ngữ xã hội mà biệt ngữ xã hội ấy đang được biến đổi bởi văn bản đang bàn. Thậm chí khi hiển nhiên có một mối quan hệ mặt đối mặt giữa các văn bản được viện dẫn trong sự phát sinh ý nghĩa của một văn bản cụ thể, vấn đề diễn giải nhấn mạnh không phải là mối quan hệ, mà là sự tương đồng (homologue) cấu trúc (homologous: có mối quan hệ, cân đối, tư thế quan hệ tương tự; sự tương ứng), nền tảng mối quan hệ đó. Bởi vì liên-văn bản là một phương diện của biệt ngữ xã hội (socialect) hơn là một văn bản hay nhóm văn bản cụ thể. Riffaterre tiếp tục thừa nhận rằng, vì sự diễn giải kí hiệu học xảy ra, mọi thứ bị quy định phụ thuộc vào cái ông gọi là sự giả định của liên-văn bản. Chúng ta không cần, đó là, khám phá những liên-văn bản cụ thể đằng sau các văn bản chúng ta đọc; mọi thứ chúng ta cần khám phá để sản sinh một sự diễn giải đầy đủ là thừa nhận rằng liên-văn bản như vậy – hoặc một văn bản cụ thể hoặc một mẫu ngôn ngữ kí hiệu mang tính xã hội – đang được biến đổi bởi văn bản đang bàn. Câu trả lời của Riffaterre đối với vấn đề về sự vắng mặt liên-văn bản, mà chúng ta đã xem xét trong phân tích của chúng ta về Genette đơn giản để biện minh rằng nó có thể được phỏng đoán bởi người đọc. Viết về hành động khuếch trương từ sự so sánh các yếu tố của văn bản vượt ra ngoài giới hạn của chính văn bản, Riffaterre tuyên bố:
Đọc liên văn bản là sự am tường về những thứ có thể so sánh tương đồng được từ văn bản tới văn bản; hoặc nó là sự giả định rằng sự so sánh như vậy phải được hoàn thành nếu không có liên văn bản trên tay, ở nơi tìm thấy có thể so sánh được. Trong trường hợp sau, văn bản nắm giữ những manh mối (như là những lỗ hổng hình thức và kí hiệu) đến một liên văn bản có thể so sánh được đang nằm chờ ở một nơi nào đó” (Riffaterre, 1980a:626)
Chúng ta đã từng thấy trong phân tích của chúng ta về bài thơ của Plath rằng một sự giải thích kí hiệu học về bài thơ đó không cần phải xác định một liên-văn bản hay nhóm các liên-văn bản cụ thể để miêu tả những mã sociolectic, mà bên trên chúng, nó xây dựng ý nghĩa của nó. Nguyên nhân tại sao liên-văn bản không cần được xác định mà chỉ cần được giả định, dẫn chúng ta hướng đến hypogram, cái là, như Riffaterre nói: “Văn bản được hình dung bởi anh ta (độc giả) trong trạng thái tiền – biến đổi của nó (pretransformational: tiền – biến đổi, tiền cấu trúc hoặc tiền ý niệm)
Hypogram này (một câu đơn hay một chuỗi câu) có thể được làm ra từ những sáo ngữ, hay nó có thể là một sự trích dẫn từ văn bản, hay một hệ thống mô tả khác. Vì hypogram luôn có ‘sự định hướng’ khẳng định hay phủ định (lời khuôn sáo là để làm tốt hơn, để cải thiện, hoặc để miệt thị, sự trích dẫn có vị trí của nó trên một lớp vỏ thẩm mĩ (esthetic) hoặc đạo đức, hệ thống mô tả phản ánh những ý nghĩa của từ cốt lõi của nó), những sự thiết lập cuộc hội thoại luôn luôn biến đổi (biến hóa) những tín hiệu (marker) của hypogram: Điều này muốn nói rằng ý nghĩa sẽ là một sự bình ổn xác định của đơn vị kí hiệu học văn bản nếu hypogram là phủ định và một sự bình ổn phủ định nếu hypogram là xác định. (Riffaterre, 1978:63-4)
Mặc dù những thuật ngữ liên-văn bản và hypogram có lẽ dường như kết hợp vào trong thuật ngữ khác, hypogram thay thế cho những dấu hiệu văn học hay những ‘chất thơ’ cụ thể. Một hypogram phụ thuộc vào quan niệm rằng các từ ngữ hay các nhóm từ nào đó hầu như có một chức năng ‘thi pháp’ trong biệt ngữ xã hội (socialect). Việc đọc của chúng ta đối với bài Mary’s Song của Plath phụ thuộc vào những kết hợp văn hóa lâu đời, liên quan đến từ ‘trinh trắng’ (innocence). Những hypogram của một văn bản sẽ là chính những kí hiệu mà liên quan đến sự tồn tại hầu như đã rồi của từ hoặc những nhóm từ biểu đạt mang tính chất kí hiệu bên trong biệt ngữ xã hội (socialect). “Nguồn gốc Hypogrammatic (Hypogrammatic devivation)”, Riffaterre viết, tồn tại khi nào “bản thân chuỗi lời nói lấy làm khuôn mẫu những nhóm từ mà chúng tồn tại trước trong ngôn ngữ thường được thử nghiệm và kiểm tra lâu dài trong văn học” (1977:111).
Trong Kí hiệu học của Thi ca, Riffaterre đưa ra ví dụ sau đây từ thơ Apollinaire (1978:97)
[Et vous cils roseaux qui vous mirez dans I’eau profonde et claire de ses regards
Roseaux discrets plus éloquents que les penseurs humains ô cils penseurs penchés au-dessus des abîmes]
[Và em những sợi mi mắt những đám sậy đang ngắm nhìn anh trong làn nước trong vắt sâu thẳm bằng cái nhìn chăm chú/ Ôi những đám sậy kín đáo có khả năng hùng biện hơn nhà tư tưởng ôi những sợi mi mắt những nhà tư tưởng vượt qua những vực thẳm]
Mặc dù trên cấp độ biểu đạt bài thơ này, với những sợi lông mi của nó nhô lên hoạt động như một thông điệp, và chính sự kết hợp những sợi lông mi với với đám sậy không xuất hiện tạo ra nhiều cảm xúc, khi chúng ta nhớ rằng phép ẩn dụ ‘lông mi – đám sậy’ là “hình ảnh truyền thống về lông mi của nữ giới, bản thân chúng là sự hoán dụ về phụ nữ như là đối tượng – tình yêu” (1978:98) chúng ta bắt đầu tháo gỡ ý nghĩa của bài thơ. Người phụ nữ không cần là người phát thông điệp, vì những sợi lông mi của cô ta theo quy ước có thể đại diện cho toàn bộ thân thể cô, và do vậy đại diện cho sắc đẹp của cô ở bên trong (in toto). Ma trận của thơ là thứ gì đó giống như ‘em xinh đẹp’: “Mô thức tiếp đó phát triển, mở rộng trong một chuỗi mô tả nơi mà những sợi lông mi lần lượt minh họa cho nhan sắc đó” (sđd). Phương thức ẩn dụ đưa chúng ta đến một trong những hypogram của bài thơ, ‘hệ thống diễn tả về từ mắt (eye)’, vì theo quy ước, trong thơ tình: “nói những sợi mi là nói tới mắt, nói đám sậy là nói tới một cái hồ” (sđd). Hoạt hóa mắt (eye), hypogram muốn nói rằng, đôi mắt của người nhận thông điệp (addressee) không cần đề cập trực tiếp đến toàn bộ, vì chúng được viện dẫn cần thiết bởi khuôn mẫu được viện dẫn trong ẩn dụ về những sợ mi – đám sậy.
Riffaterre tiếp tục chứng minh làm thế nào mà vô số liên-văn bản có thể giải thích những yếu tố của dòng thứ hai, đặc biệt là câu khó hiểu ban đầu: “discreet” và “human thinkers” (sự kín đáo và nhà tư tưởng). Trước tiên liên quan đến câu chuyện về vua Midat và vị trí của đám sậy trong đó; thứ hai là một câu thường được trích dẫn bởi Pascal, mà bản thân nó, vì những quy ước thông thường của nó, có những chức năng như một hypogram: “I’home n’est qu’un roseau mais c’est un roseau pensant” (1978:99) [Con người là một cây sậy, nhưng là một cây sậy biết suy nghĩ]. Vì vậy, trong tác phẩm của Riffaterre, hypogram thay thế cái mà Barthes gọi là sự đọc rồi (the already read). Vì Jonathan Culler nói:
hypogram không được xác định trong bản thân văn bản mà là sản phẩm của thực tiễn văn học và kí hiệu học quá khứ, và nó ở trong việc nhận thức một sự quy chiếu của kí hiệu đến cụm từ tồn tại trước đó hay phức tạp mà người đọc nhận biết dấu hiệu như là ‘chất thơ’. Kí hiệu mô phỏng hiển nhiên được được xem như sự chuyển dịch của diễn ngôn thi pháp học quá khứ. Nhưng để ‘tính thơ (poeticity) được năng hoạt trong văn bản, kí hiệu đề cập tới một hypogram cũng phải là một biến thể ma trận của văn bản đó’” (1978:23). Nói cách khác, những kí hiệu có chất thơ (poetic) trong văn bản bị vượt qua (overdetermined) đầy sức mạnh, chúng đề cập đến một hypogram tồn tại trước đó và là những biến thể hay những sự chuyển dịch của một ma trận” (Culler, 1981:83)
Trên hết, việc vượt qua những xác quyết (hoặc vượt qua sự kiểm duyệt (overdetermination) về kí hiệu có chất thơ này đánh dấu sự khác biệt giữa phương pháp của Riffaterre và những vận dụng hậu cấu trúc luận về lí luận kí hiệu học mà chúng ta đã nghiên cứu trước đó. Bản chất vượt qua sự xác quyết (overdetermined) của kí hiệu văn học quả thực có lẽ dẫn chúng ta đến việc xác định hay giả định những liên-văn bản và những hypogram, chúng làm cho nghĩa của cấu trúc văn bản trở nên minh bạch; tiếp đó những chức năng liên văn bản như vậy có thể được giả định bởi độc giả, và vấn đề đang thảo luận ở đây là làm sáng tỏ mã, giống như một nhà phân tích sẽ làm rõ về những biểu tượng giấc mơ vượt qua sự kiểm duyệt (overdetermined) của một bệnh nhân. Trong phương pháp này Riffaterre điều khiển tránh việc làm rõ văn bản trong vô số những phạm vi có xu hướng thoái trào của một quan niệm hậu cấu trúc chủ nghĩa về văn bản nói chung hoặc văn bản xã hội.
Thực tiễn giải thích của Riffaterre dựa vào việc khám phá những con đường nơi mà các văn bản sản sinh ra sự thống nhất kí hiệu (về) việc biến đổi những mã, những khuôn sáo, những sự đối lập và những hệ thống miêu tả đã được chia sẻ của xã hội; phương pháp như thế vẫn khước từ việc thừa nhận một sự tín nhiệm như vậy về biệt ngữ xã hội (socialect) dính líu đến mọi văn bản trong bất kì tín nhiệm nào khác hơn là chính hệ thống tự phát sinh của nó, biệt ngữ cá nhân và do vậy là ý nghĩa duy nhất. Trong khi Barthes, Kristeva và các nhà phân tích văn bản hay kí hiệu hậu cấu trúc luận khác chuyển từ văn bản đến cái chúng ta đã gọi là văn bản xã hội hay văn bản nói chung và nghiên cứu quá tỉ mỉ ý niệm truyền thống về sự thống nhất văn bản, Riffaterre đọc trong một xu hướng ngược lại, từ văn bản đến tính bất biến của văn bản, từ những sự mô phỏng phi ngữ pháp (ungrammaticalities) đến tính độc nhất của kí hiệu học (văn bản). Vì ông nói, “một bài thơ được đọc ngược với chất thơ” (1978:19). Trong ý nghĩa này, ý nghĩa của bài thơ phụ thuộc vào việc độc giả mang tới văn bản sự hiểu biết về biệt ngữ xã hội (sociolect), cái sẽ giải phóng những ý nghĩa ẩn náu trước đó của nó. Các văn bản được giả thiết là các liên-văn bản, mà độc giả sau đó phải hiện thực hóa bên trong một sự đọc kí hiệu về văn bản. Lí luận phụ thuộc nặng nề vào niềm tin rằng không chỉ văn bản đó cho chúng ta những manh mối rõ ràng cho việc giải mã của chúng (đó là, một niềm tin, rằng các văn bản có thể được giải mã một cách thích đáng trong những giới hạn của chúng), mà những độc giả còn có khả năng, có tri thức về biệt ngữ xã hội (sociolect) và về những truyền thống văn học, cái sẽ cho phép họ thực hiện sự giải mã như vậy thành công.
(Trích từ Intertextuality của Grham Allen, xuất bản lần đầu năm 2000, bởi NXB Routledge, London p.115-125)
*Hypogram (Riffaterre)
‘Văn bản được tưởng tượng trong trạng thái tiền chuyển hóa, (pretransformational: tiền cấu trúc, tiền lí giải)’ (Reffaterre, 1978:63). Vì, đối với Riffaterre, mọi văn bản là sự chuyển hóa của những đơn vị ý nghĩa nhỏ. Hypogram là một loạt những yếu tố gốc nhờ chúng văn bản được xây dựng. “Hypogram có thể được làm bằng sáo ngữ, hoặc nó có thể được trính dẫn từ văn bản khác, hay một hệ thống miêu tả (descriptive system) khác.
(Graham Allen, Intertextuality, Bảng tra thuật ngữ, p 214)
[1]: Tiêu đề do chúng tôi đặt để phù hợp với nội dung bản dịch
No Tag

